Giải mã ý nghĩa - Đoán vận Hung Cát của quẻ Trạch Thủy Khốn

Thứ 7, 4/6/2022 - 23:33

Mục lục
 
Mục lục

Quẻ Trạch Thủy Khốn là tên của quẻ số 47 trong số 64 quẻ Kinh Dịch. Khám phá ý nghĩa quẻ số 47 sẽ giúp quý bạn biết được vận Hung - Cát mà quẻ Trạch Thủy Khốn mang lại.

Quẻ Trạch Thủy Khốn là gì?

Quẻ Trạch Thủy Khốn được xây dựng nhờ sự nghiên cứu của những Tổ Sư trong lĩnh vực tử vi, kinh dịch. Và để có kết quả như ngày nay, thì quẻ số 47 đã trải qua sự vun bồi, giải mã ý nghĩa luận đúng sai trong suốt cả một chặng đường kéo dài hàng ngàn năm.

Quẻ Trạch Thủy Khốn vốn vô cùng phức tạp, theo lời dẫn của cổ nhân, thì mỗi quẻ sinh ra vốn vô cùng phức tạp, và để khám phá ý nghĩa quẻ bói số 47 cũng vô cùng phức tạp. Cho đến ngày nay, rất hiếm người có thể hiểu được quẻ số 47 Trạch Thủy Khốn cũng như 64 quẻ kinh dịch.

Giải quẻ số 47 như thế nào?

Việc giải mã quẻ số 47 của chúng tôi được xây dựng dựa trên cơ sở của Kinh Dịch cổ xưa được lưu truyền lại.

Muốn biết ý nghĩa của quẻ Trạch Thủy Khốn, thì các chuyên gia phải xây dựng đồ hình, sau đó đồ hình sẽ được kết hợp với Nội Quải, Ngoại Quải để đưa ra kết quả của quẻ bói. Đây là điều mà đại đa số trong chúng ta không thể tiến hành được.

Thế nên chúng tôi đã nghiên cứu và xây dựng nên ý nghĩa tường minh nhất của quẻ Trạch Thủy Khốn, giúp quý bạn khám phá tất cả mọi điều về quẻ 47 một cách chính xác nhất.

Sau đây là phần luận giải chi tiết ý nghĩa quẻ Trạch Thủy Khốn ứng với quý bạn:

TRẠCH THỦY KHỐN. Khốn khổ

澤 水 困

Thuộc loại: Quẻ Bình Hòa

 

ảnh chú thíchCác bạn có thể xem thêm ý nghĩa quẻ dịch khác tại đây:

Phân tích toàn quẻ Trạch Thủy Khốn

Thoán từ

困 . 亨 . 貞 . 大 人 吉 . 無 咎 . 有 言 不 信 .

Khốn. Hanh. Trinh. Đại nhân cát. Vô cữu. Hữu ngôn bất tín.

Dịch.

Khốn cùng, nhưng vẫn hanh thông,

Trung trinh, quân tử khốn cùng vẫn hay.

Khốn cùng, mà vẫn thẳng ngay,

Tuyệt nhiên không có đơn sai, lỗi lầm.

Gặp thời điên đảo phong trần.

Hãy nên kín miệng, nói năng ích gì.

Thoán từ: Khốn là khốn đốn. Khốn đốn trước mắt phàm phu, thời là cùng cực lao lung, nhưng trước mắt Thánh hiền, thì khốn vẫn mang lại sự hanh thông. Thật vậy, thân tuy khốn, nhưng phẩm giá vẫn vẹn toàn. Đạo vẫn cao, đức vẫn trọng,  vẫn để được tiếng thơm muôn thuở, đó là trường hợp Nguyễn Tri Phương, Võ Tánh vv...

Khốn mà vẫn Hanh, vì sự khốn khổ là một phương tiện để đào luyện tâm thần một cách hữu hiệu. Mạnh Tử viết: Hễ trời định phó thác trách nhiệm lớn lao cho người nào, trước hết làm cho người ấy phải khổ não tâm trí, lao nhọc gân cốt, đói khát, cầu bơ cầu bất, nghèo nàn, thiếu hụt trước sau, và làm cho rối loạn điên đảo các cuộc hành vi của người ấy. Như vậy đặng phát động lương tâm của người, kiên nhẫn tính tình của người, và gia tăng tài đức còn khiếm khuyết của người.

Thế thường, người ta trước có lầm lỗi, rồi sau mới có thể sửa đổi. Trước có khốn đốn, nơi tâm tư hoạnh nghịch mới mưu lự, rồi sau mới hưng thịnh...(Mạnh Tử Cáo Tử Chương cú hạ, 15). Tuy nhiên, chỉ có người quân tử khi gặp lúc cùng khốn, mới giữ được tròn khí tiết, mới xử sự đường hoàng, không ai chê trách được, còn tiểu nhân ắt là không như vậy. Thoán Từ nói: Trinh. Đại nhân cát. Cũng y như Luận ngữ nói: Quân tử cố cùng, tiểu nhân  cùng tư lạm hỹ (Luận Ngữ XV, 1). Lúc cùng khốn, lúc thất thế, mình có nói gì cũng chẳng ai tin mình (Hữu ngôn bất tín). Như vậy, thà kín tiếng, xẻn lời thì hơn.

Thoán Truyện.

Thoán viết:

彖 曰 . 困 . 剛 掩 也 . 險 以 說 . 困 而 不 失 其 所 . 亨 . 其 唯 君 子 乎 ?  貞 大 人 吉 . 以 剛 中 也 . 有 言 不 信 . 尚 口 乃 窮 也 .

Khốn. Cương yểm dã. Hiểm nhi duyệt. Khốn nhi bất thất kỳ sở hanh.

Kỳ duy quân tử hồ. Trinh đại nhân cát. Dĩ cương trung dã.

Hữu ngôn bất tín. Thượng khẩu nãi cùng dã.

Dịch.

Khốn là cứng bị mềm che,

Tuy trong gian hiểm, thỏa thuê khác nào.

Khốn cùng, mà vẫn thanh tao,

Trừ phi quân tử, nhẽ nào hanh thông.

Khốn cùng, mà vẫn trinh trung,

Phải là quân tử, mới mong tốt lành.

Gặp thời cùng khốn, điêu linh,

Sắt son, trung chính, thế tình mấy ai?

Chẳng nên cả tiếng, lắm lời,

Bạ mồm, có thể họa tai khôn cùng.  

Thoán Truyện trước hết giải thích chữ Khốn, và cho rằng khốn là Dương cương bị khuất lấp. Dương cương là ánh sáng, là người quân tử, cũng y như nói ánh sáng bị che khuất, quân tử bị tiểu nhân đàn áp, bưng bít. (Khốn cương yểm dã). Gặp hiểm nguy, mà vẫn yên vui, vẫn giữ lòng an bình, thanh thản, thì chỉ có người quân tử mới làm được như vậy (Hiểm nhi duyệt. Khốn nhi bất thất kỳ sở hanh. Kỳ duy quân tử hồ). Đó là trường hợp đức Khổng bị vây 5,7 ngày ở Trần, Thái mà vẫn đàn ca, (Sử ký Tư Mã Thiên, Khổng tử thế gia), hoặc Nhan Hồi sống trong ngõ hẹp với 1 giỏ cơm, 1 bầu nước mà vẫn lấy làm ung dung, sung sướng (Luận Ngữ, VI, 9).

Người  quân tử,  gặp cảnh khốn cùng, vẫn giữ được lòng minh chính, vẫn giữ được lòng sắt son, như vậy mới hay (Trinh. Đại nhân cát). Họ tuy gặp cảnh khốn cùng, vẫn là đại nhân. Diogène,  sống trong ống cống, với chiếc bát để ăn uống; được vua Alexandre đến thăm, ông xin vua một ân huệ là đứng lui ra, đừng lấp ánh mặt trời của ông.

Gặp nguy hiểm, khốn cùng, có nói cũng chẳng ai tin, nên dẫu có khua múa cũng chỉ chuốc lấy hoạ hại. Tiết Nhân Quí bị Lý Đạo Tông, là em vua Đường Thái Tôn bày mưu hại. Lý Đạo Tông giả chiếu chỉ triệu Tiết Nhân Quí về trào, mời về dinh dự tiệc, chuốc  rượu mê cho say, và vu cho rằng định hãm hiếp và cố sát Quận Chúa. Đường Thái Tông nổi giận đòi chém, mà có đợi cho Tiết Nhân Quí biện bạch được lời nào đâu.

Sau khi tiến lên sẽ tất gặp khốn, vì thế ngay sau quẻ Địa Phong Thăng là quẻ Trạch Thủy Khốn. Tượng hình của quẻ có Đoài ở trên, Khảm ở dưới nghĩa là nước trạch chảy xuống sông, phải cạn đi lên với khốn. Quẻ này có các hào dương bị hào Âm hãm nên dẫn tới khốn.

Thượng quái Đoài có đức hạnh, có vui có duyệt gặp trong tình cảnh hiểm nguy (Khảm) giống như một hòn đá thử vàng tôi luyện đức hạnh được vững bền, được vui. Thời kỳ của Khôn kẻ tiểu nhân dễ biến tâm hoặc cảm thấy chán đời, nên bậc quân tử cần giữ vững đạo trinh chính để quẻ về sau sẽ có điềm cát.

ảnh chú thíchCác bạn có thể xem thêm ý nghĩa quẻ dịch khác tại đây:

Sơ lược từng hào của quẻ Trạch Thủy Khốn

  • Sơ Lục : Âm nhu, ở đáy quẻ Khốn, lại không được Cửu Tứ giúp đỡ vì Tứ bất trung bất chính. Nên sơ bị vướng mắc, không được ai cứu. (ví dụ Chiêm Vũ Hầu, thờ Trịnh Khải vô tài, nên bị kiêu binh loạn đao phân thây).
  • Cửu Nhị : Dương cương đắc trung, là người tài đức. Ở thời Khốn tuy mình được giầu sang nhưng thấy thiên hạ khốn khổ cũng buồn lây. Bạo động thì hung, chờ thời thì vô cựu. (Ví dụ khi Pháp xâm lăng ta, Tuy Lý vương tọa thị thì giữ được giầu sang, còn Phan Đình Phùng khởi nghĩa thì khốn đốn, nhưng vẫn vui giữ được nghĩa lớn).
  • Lục Tam : Âm nhu, lại bất trung bất chính, lại ở vị khảm chi cực. Tiến lên đụng phải Tứ như hòn đá, lùi xuống vấp phải Nhị như gai góc: hung. (Ví dụ Nguyễn Văn Tường, bị thiên hạ khinh bỉ và Pháp cũng không dong, đem đi đầy).
  • Cửu Tứ : Dương hào cư âm vị, bất chính bất trung. Muốn ứng với Sơ Lục nhưng bị Cửu Nhị ngăn cách, nên tự thương thân và thẹn. Nhưng nếu tứ cố gắng thì cuối cùng Sơ cũng sẽ giúp đỡ được Tứ và kéo ra khỏi hiểm. (Ví dụ hoàng thân Lê Duy Mật. Muốn ứng với vua Lê nhưng bị chúa Trịnh ngăn cách. Vì trung nghĩa nên được một số nghĩa sĩ hưởng ứng, giữ được Trấn Ninh vài chục năm).
  • Cửu Ngũ : Là vị chí tôn. ở thời Khốn, trên bị Thượng Lục đè ép, dưới bị Cửu Tứ lộng hành, nên không làm được gì. Nhưng Ngũ là người cương trung, cứ giữ lòng chí thành thì sẽ được phúc. (Ví dụ Lê Hiển tông ở giữa cảnh khốn, nào kiêu binh nào chúa Trịnh, nào Tây sơn, mà vẫn giữ được lộc vị).
  • Thượng Lục : Ở thời Khốn chi cực, tất nhiên bị khốn. Nhưng cùng tắc biến, nếu Thượng biết hối quá, xét lại cách cư xử của mình chưa đúng đạo mà sửa đổi đi thì chắc được Cát. (Ví dụ Chiêu Thống không hiểu lẽ đó như tổ phụ Hiển Tông, nên bị khốn, lần lượt bị Trịnh Lệ, Trịnh Bồng, Nguyễn Hữu Chỉnh chèn ép, rồi mời quân thanh sang tái lập hư vị, nên mới ngậm hờn ở Trung Quốc. Trái lại Nguyễn Ánh cũng bị khốn đốn vì Tây Sơn, nhưng biết tự cường, chiêu tập binh sĩ, khéo dụng binh, nên sau thống nhất được đất nước)

Ý nghĩa của quẻ Trạch Thủy Khốn

Quẻ Trạch Thủy Khốn có ngoại quái Đoài với một hào Âm ở trên hai hào Dương, nội quái Tốn có một hào Dương bị bao vây bởi hai hào Âm. Xét toàn quẻ có quái Âm đè lên trên quái Dương thể hiện thời kỳ quân tử gặp nhiều nguy khốn.

Khốn mang ý nghĩa là thất bại, khốn khổ, đau đớn, khốn cùng. Tượng quẻ của quẻ Khốn là Trạch Vô Thủy là đầm không có nước, Đoài nằm trên đầm lầy, Khảm là nước. Thời kỳ quẻ Khốn thể hiện vận đứng giữa nguy nan, công việc khó khăn, thất bại, dẫn tới cô đơn. Từ đó sẽ đến thất bại mang điềm xấu, nên đề phòng.

Quẻ Trạch Thủy Khốn tốt cho việc gì?

Quẻ Trạch Thủy Khốn là quẻ thuộc loại trung bình, mọi việc có nguy có thời cơ nên biết nguy mà hãm, lợi thì tiến. Tốt nhất thời kỳ quẻ Khốn nên tạm ổn định, không nên vội vàng, hấp tấp chỉ thu thất bại.

Xét về vận mệnh, dụng quẻ Khốn có thể được vui vẻ và điềm tĩnh của Đoài, nên biết cách chấp nhận những khó khăn, không nên oán thán, bên cạnh đó tự trau rồi đức hạnh. Chỉ như thế cuối cùng sẽ được kết quả tốt hơn.